Giữ văn hoá bản địa khi có du lịch nghĩa là để văn hoá tiếp tục sống trong đời thường của cộng đồng, mời khách vào như người khách chứ không như khán giả mua vé, và để chính người trong cộng đồng quyết định phần nào chia sẻ, phần nào giữ riêng. Văn hoá chỉ trở thành màn diễn khi nó bị tách khỏi đời sống để phục vụ lịch của khách.
Chào bạn, đây là Nhà Kiến Tạo. Hôm nay mình bàn một chuyện tế nhị. Văn hoá bản địa là một trong những lý do lớn nhất khiến khách tìm tới vùng cao, vùng đảo. Nhưng chính du lịch cũng có thể làm rỗng nó. Người dựng vùng đứng ở giữa, và phải chọn cách đứng.
Văn hoá sống và văn hoá trưng bày khác nhau thế nào?
Văn hoá sống là khi một nghi lễ được làm vào đúng dịp, vì đúng lý do, bởi những người tin vào nó. Tiếng chiêng vang lên vì có lễ mừng lúa mới, vì có người trong làng được đón về. Khách có mặt ở đó là khách may mắn được chứng kiến.
Văn hoá trưng bày là khi nghi lễ được làm vào bảy giờ tối mỗi ngày vì có đoàn khách đặt tour. Người đánh chiêng mặc trang phục truyền thống chỉ lúc đó, diễn xong thay đồ về nhà xem ti vi.
Không phải mọi sự trưng bày đều xấu. Một buổi biểu diễn giới thiệu nghệ thuật cho khách, nếu được nói rõ là biểu diễn, cũng là cách để nghệ nhân có thu nhập và người trẻ có lý do học nghề.
Vấn đề chỉ đến khi trưng bày được giả làm đời sống thật, và khi những thứ thiêng liêng bị đem ra diễn theo yêu cầu.
Ai quyết định phần nào chia sẻ?
Đây là câu hỏi quan trọng nhất và câu trả lời phải là: cộng đồng quyết định, không phải doanh nghiệp. Có những nghi lễ người trong làng sẵn lòng mời khách tham dự. Có những nghi lễ chỉ dành cho người trong dòng họ, trong làng. Có những nơi thiêng mà người ngoài không được bước vào.
Doanh nghiệp làm du lịch cần hỏi, lắng nghe, và tôn trọng những giới hạn đó, kể cả khi chúng làm sản phẩm kém hấp dẫn hơn trên giấy.
Cách hỏi cũng quan trọng. Không phải hỏi một người rồi coi như cả làng đồng ý. Nên hỏi qua những người có uy tín về văn hoá, như già làng, người chủ lễ, nghệ nhân lớn tuổi, và để họ bàn trong cộng đồng.
Và câu trả lời có thể thay đổi. Một điều hôm nay được chia sẻ, mai sau cộng đồng có thể thấy không nên nữa. Doanh nghiệp phải chấp nhận điều đó.
Mời khách như khách, không như khán giả
Có một khác biệt tinh tế giữa mời ai đó xem và mời ai đó tham gia. Khi khách là khán giả, họ ngồi một hàng, chụp ảnh, vỗ tay, rồi về. Khi khách là khách, họ được mời vào nhà, ngồi cùng, ăn cùng, được giải thích ý nghĩa, và cư xử như người khách trong một nhà người ta.
Cách thứ hai đòi hỏi số khách nhỏ hơn, chuẩn bị kỹ hơn, và người dẫn khách hiểu văn hoá hơn. Nhưng trải nghiệm của khách sâu hơn rất nhiều, và người trong làng cũng không cảm thấy mình bị nhìn như vật trưng bày.
Trước chuyến đi, khách nên được kể về những điều nên và không nên. Khi nào được chụp ảnh, khi nào không. Cách chào hỏi, cách nhận đồ ăn thức uống. Những điều kiêng kỵ.
Khách được chuẩn bị tốt thường rất trân trọng. Và người trong làng cũng cảm nhận được sự trân trọng đó.
Du lịch có thể giúp văn hoá sống tiếp
Mình không nghĩ du lịch luôn hại văn hoá. Ở nhiều nơi, chính du lịch giúp những nghề thủ công sắp mất có người mua, giúp người trẻ thấy văn hoá của mình có giá trị trong mắt người ngoài, và có thêm lý do để học.
Một bà cụ dệt thổ cẩm có thể dạy cho cháu gái vì giờ đây có khách mua tấm vải. Một nhóm thanh niên có thể học đánh chiêng lại vì có dịp biểu diễn và có thu nhập.
Điều quan trọng là tiền từ du lịch văn hoá phải về tới người giữ văn hoá. Nghệ nhân phải được trả công xứng đáng, sản phẩm thủ công phải được bán với giá tôn trọng tay nghề.
Doanh nghiệp cũng có thể góp phần giữ văn hoá bằng những việc không trực tiếp sinh lời: hỗ trợ lớp dạy nghề cho người trẻ, ghi chép lại những câu chuyện, bài hát của người già, giúp cộng đồng giữ những không gian thiêng.
Những cái bẫy nên tránh
Bẫy đầu tiên là trộn văn hoá của nhiều dân tộc thành một màn diễn chung, cho tiện. Khách không phân biệt được, và mỗi dân tộc bị làm mờ đi.
Bẫy thứ hai là thêm thắt cho hấp dẫn. Bịa thêm truyền thuyết, thêm màn trình diễn không có trong truyền thống, may trang phục lòe loẹt hơn cho ảnh đẹp. Qua vài thế hệ khách, người ta không còn biết đâu là thật.
Bẫy thứ ba là dùng hình ảnh con người bản địa trong quảng bá mà không xin phép, không chia sẻ lợi ích. Người trong ảnh có thể thấy mình bị lợi dụng.
Văn hoá không phải là tài nguyên để khai thác. Nó là đời sống của những con người cụ thể. Người dựng vùng giỏi là người để lại vùng đất với một nền văn hoá sống khoẻ hơn lúc họ đến. Bạn đã hỏi người trong làng xem điều gì họ muốn giữ riêng cho mình chưa?
Câu hỏi thường gặp
Chụp ảnh người dân tộc thiểu số có cần xin phép không?
Nên luôn xin phép trước khi chụp ảnh chân dung, và tôn trọng khi họ từ chối. Ở những nơi thiêng hoặc trong nghi lễ, hỏi người dẫn đường hoặc chủ lễ trước khi giơ máy ảnh.
Biểu diễn văn hoá cho khách có sai không?
Không sai nếu được nói rõ là biểu diễn, nghệ nhân được trả công xứng đáng, và nội dung được cộng đồng đồng ý. Điều cần tránh là giả làm nghi lễ thật và đem những thứ thiêng ra diễn.
Làm sao mua đồ thủ công mà người làm được hưởng?
Mua trực tiếp từ nghệ nhân hoặc từ tổ hợp tác của làng, hỏi về người làm và cách làm, và đừng mặc cả quá mức. Một món đồ thủ công chứa nhiều ngày công.
Doanh nghiệp có thể dùng hoa văn truyền thống trong thiết kế không?
Nên hỏi ý cộng đồng, hiểu ý nghĩa của hoa văn, và cân nhắc chia sẻ lợi ích. Một số hoa văn mang ý nghĩa thiêng và không nên dùng tuỳ tiện trên sản phẩm thương mại.
Khách nên cư xử thế nào khi dự một nghi lễ của làng?
Mặc kín đáo, giữ im lặng khi cần, làm theo hướng dẫn của người dẫn đường, không chen vào giữa, và nhận lời mời ăn uống một cách lịch sự. Nếu không chắc, hãy hỏi trước.